• Đội ngũ bác sỹ hàm mặt chuyên sâu

    Tại Hoàn Mỹ, đội ngũ bác sỹ hàm mặt đều được đào tạo bài bản chuyên khoa răng hàm mặt tại các trường hàng đầu của Mỹ, trường Đại học Y Hà Nội

  • Phong cách phục vụ tận tâm, chuyên nghiệp

    Đối với chúng tôi, bệnh nhân là những người bạn thân thiết và dài lâu. Sự hài lòng của bạn chính là động lực để Nha khoa Hoàn Mỹ không ngừng hoàn thiện và phát triển.

  • Công nghệ hàng đầu

    Chúng tôi đã đầu tư đi sâu vào các công nghệ mới, hiện đại nhất có thể tạo ra kết quả vượt trội mà vẫn khắc phục được tất cả những e ngại kể trên của bệnh nhân.

Bọc răng sứ khi nào là tốt nhất

Với sự phát minh ra công nghệ răng sứ thì gần như các khiếm khuyết của răng đều có thể khắc phục được. Bọc răng cửa cũng là một trường hợp không ngoại lệ. Bài viết này sẽ đề cập các bài viết liên quan đến bọc răng sứ cho răng cửa, nhằm giải đáp các thắc mắc của nhiều người về vấn đề này.

Bọc răng sứ sẽ được chỉ đinh trong các trường hợp răng bị nhiễm màu, bị mất một răng hay nhiều răng sẽ làm cầu răng, răng đã chữa tủy, răng bị sâu, bể lớn,.. bác sĩ sẽ mài nhỏ và chụp một mão răng để bảo vệ thân răng. Bên cạnh đó, bọc răng sứ còn được áp dụng trong các trường hợp phục hình thẩm mỹ sau:

- Răng lệch lạc: Trong trường hợp này răng cửa sẽ mọc lệch, gây mất thẩm mỹ và ảnh hưởng đến khớp cắn của bạn, làm giảm sức nhai của răng và gây khó khăn trong quá trình vệ sinh răng miệng.

- Răng thưa: Hai răng cửa nhỏ, khoảng cách giữa hai răng nhiều, người ngoài nhìn vào có thể thấy rõ khe giữa 2 răng,  làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ và không tự tin trong giao tiếp.

- Răng cửa mọc chìa ra ngoài: trong trường hợp này, răng cửa sẽ mọc chìa hẳn ra ngoài so với các răng còn lại làm răng bị hô hàm hoặc răng khấp khểnh, mất thẩm mỹ toàn bộ khuôn mặt. Nguyên nhân phổ biến gây ra tình trạng này là do thói quen mút tay, núm vú khi còn thơ ấu,…Trường hợp này bạn nên bọc răng sứ cho răng cửa.

Xem thêm:

>> Chụp răng sứ giá bao nhiêu

>> Chụp răng sứ ở đâu tốt nhất hà nội

Cùng tìm hiểu lấy cao răng là gì?

Nếu bạn vẫn chưa biết những lợi ích không thể bỏ qua của việc lấy cao răng là gì thì bạn có thể sẽ phải đối diện với khá nhiều vấn đề về sức khỏe răng miệng sau này. Hiệp hội nha sỹ vẫn luôn khuyên bạn nên lấy cao răng định kỳ và tất cả đều có lý do xứng đáng.
>> dụng cụ lấy cao răng
>> máy lấy cao răng
1. Lấy cao răng là gì?
Cao răng là chất lắng cặn cứng của các muối vô cơ (canxi carbonat và phosphate) cùng với cặn mềm là các mảnh vụn thức ăn, các chất khoáng trong khoang miệng, vi khuẩn… kết hợp với sự lắng đọng sắt của huyết thanh trong máu.
Sau khi chải răng, trên bề mặt răng xuất hiện một lớp màng mỏng gọi là màng sinh học. Đây là nơi các vi khuẩn bám vào và sau một tuần nó hình thành đầy đủ và dày hơn cũng như thay đổi độ pH, tạo điều kiện hình thành các mảng cứng xung quanh cổ răng và dưới nướu chính là cao răng.
Lấy cao răng là dịch vụ nha khoa cơ bản lấy đi lớp mảng cứng bám xung quanh cổ răng này và được các nha sỹ khuyến khích thực hiện định kỳ ít nhất từ 3-6 tháng một lần.

2. Lợi ích của việc lấy cao răng là gì?
Không phải ngẫu nhiên mà các nha sỹ khuyên bạn nên đi lấy cao răng. Lợi ích của việc lấy cao răng là gì, bạn sẽ biết ngay bây giờ đây.
- Bảo vệ và giữ cho xương răng chắc khỏe:
Một số quan điểm sai lầm cho rằng lấy cao răng khiến cho phần chân răng và lợi lộ ra răng sẽ dễ bị lung lay. Đây thực sự là một suy nghĩ sai lầm bởi chính cao răng để càng lâu dài lại càng gây ảnh hưởng xấu đến xương răng. Khi lấy cao răng, những độc tố và vi khuẩn bám xung quanh chân răng sẽ được làm sạch. Những độc tố và vi khuẩn này chính là nguyên nhân gây tiêu xương răng và khiến cho nướu mất chỗ bám, dẫn tới hiện tượng tụt nướu, lộ ra xương răng. Khi xương răng bị tiêu đi thì chân răng lại càng ngắn hơn và nguy cơ răng lung lay, gãy rụng càng cao. Đồng thời, bạn cũng nên biết tiêu xương là quá trình thoái hóa không thể chống lại theo thời gian vì vậy duy trì tiêu xương ở mức độ ổn định vô cùng quan trọng. Huống hồ cao răng lại khiến đẩy nhanh việc tiêu xương và kéo theo hàng loạt bệnh răng miệng khác.
- Chống lại một số bệnh răng miệng điển hình và nguy cơ khác:
Có rất nhiều bệnh răng miệng mà nguyên nhân xuất phát từ cao răng. Điển hình là viêm nướu và các bệnh như viêm niêm mạc miệng. Cao răng không lấy thường xuyên tích tụ lại gây viêm nướu, viêm nha chu dẫn đến các triệu chứng chảy máu chân răng, hơi thở khó chịu, tụt lợi… Các bạn cũng có thể cảm thấy ê buốt khi ăn uống. Mức độ nghiêm trọng nhất thì chính là răng bị gãy rụng và gây tiêu xương hàm. Ngoài ra, theo như nghiên cứu, cao răng cũng là một phần nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch, viêm họng, viêm amidan.
- Tăng cường tính thẩm mỹ, hỗ trợ vệ sinh răng miệng:
Lợi ích của việc lấy cao răng là gì? Không chỉ có giúp ngăn ngừa các bệnh nguy hiểm kể trên mà lấy cao răng còn đem đến giá trị thẩm mỹ cao. Khi cao răng được loại bỏ thì hàm răng sẽ nhìn trắng hơn, không còn những mảng ố vàng hoặc đen sậm, đặc biệt là khi kết hợp với kỹ thuật đánh bóng răng sau khi lấy cao răng. Bên cạnh đó, bạn cũng dễ dàng giữ vệ sinh răng miệng để tránh được những bệnh như sâu răng, hơi thở khó chịu sau này. Đây sẽ là điểm cộng cực lớn cho sự tự tin khi giao tiếp của bạn.

Quá trình lành thương sau phẫu thuật tụt lợi

Vùng quanh răng bao gồm 4 thành phần : cement răng, dây chằng quanh răng, xương ổ răng và lợi. Bệnh lý và sang chấn có thể dẫn đến phá huỷ một phần mô quanh răng, mục đích của điều trị là tái tạo lại mô đã mất. Tái sinh vùng quanh răng đặc trưng bởi sự tạo mới cement răng, dây chằng quanh răng, xương ổ và lợi.
>> dụng cụ lấy cao răng
>> máy lấy cao răng
Kornman và Robertson phân loại các yếu tố lâm sàng có thể ảnh hưởng đến sự lành thương của mô quanh răng: Nhiễm khuẩn vào vết thương. Khả năng lành thương bẩm sinh. Đặc điểm giải phẫu tại chỗ. Phương pháp phẫu thuật và kỹ năng phẫu thuật viên .
Nguyên tắc lành thương :
Theo Clark thì các sang thương gây tổn thương mao mạch máu làm chảy máu rồi xuất hiện cục máu đông. Sự tạo thành cục máu đông là đáp ứng tức thì với các sang chấn. cục máu đông có hai chức năng: tạm thời che phủ mô liên kết lộ ra và tạo khung để các tế bào di chuyển đến. Sự hình thành cục máu đông xuất hiện cùng với giai đoạn đầu của phản ứng viêm .
(Theo luận án tiến sĩ của Lê Long Nghĩa tại trường Đại học y hà nội) 
Cấu tạo của cục máu đông gồm các thành phần không tế bào và tế bào. Thành phần tế bào bao gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Thành phần không tế bào gồm lưới sợi fibrin, fibronectin huyết tương, vitronectin, thrombosporin (Martin ), các protein huyết tương sẽ dính lên bề mặt chân răng.
Polson và Proye nghiên cứu trên khỉ và kết luận sự quan trọng của sợi fibrin trong cục máu đông, sợi fibrin bàm lên bề mặt chân răng, giúp tạo mô hạt trên bề mặt chân răng, các tế bào từ vùng dây chằng đi tới và tái sinh dây chằng mới trên bề mặt chân răng, sau đó kích thích tạo cement mới trên chân răng .
Giai đoạn đầu của phản ứng viêm có sự xuất hiện của nhiều tế bào viêm, (chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính và đơn nhân) trong cục máu đông, các tế bào này làm sạch vi khuẩn và mô hoại tử bằng cách đại thực bào và giải phóng các men và các sản phẩm khử oxy.
Đến ngày thứ ba mô hạt được tạo ra và có nhiều hoạt động thực bào. Vai trò của đại thực bào: Các đại thực bào di chuyển tới vùng vết thương, vừa làm sạch vùng tổn thương bằng cách thực bào, vừa tiết ra các polypeptide để tham gia tái tạo mô . Các đại thực bào đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra mô hạt. Đại thực bào tiết ra các yếu tố tăng trưởng và crytokine để tham gia vào sự gián phân và di chuyển của các nguyên bào sợi, các tế bào nội mô, và các tế bào cơ trơn ở vùng vết thương.

Vào ngày thứ bảy, có sự bám dính của mô liên kết lên bề mặt ngà chân răng bằng các sợi fibrin. Mô hạt giàu tế bào sẽ tiếp tục trưởng thành và tạo lại hình thể mô.
Vai trò của nguyên bào: Các nguyên bào sợi có trách nhiệm thay thế khung ngoại bào tạm thời bằng khung giàu collagen từ các polypeptide. Khi lưới khung collagen đã được tổng hợp xong, một số nguyên bào sợi biệt hoá thành tế bào sinh sợi cơ để sản sinh ra sợi cơ trơn actin. Quá trình biệt hoá bào sợi và tổng hợp sợi cơ trơn làm vết thương co lại. Vai trò của nguyên bào tạo mạch: có trách nhiệm trong quá trình tạo mạch để tạo ra các ống và vòng mạch trong khung mô tạm thời ở vết thương. Các tế bào nội mô trải qua quá trình chết sau khi hoàn thành nhiệm vụ và số lượng đơn vị mạch máu giảm xuống .
Các hoạt động miễn dịch:
Các cytokine do đại thực bào tiết ra hoạt động như các hormone điều hoà miễn dịch có vai trò quan trọng trong việc điều hoà các đáp ứng miễn dịch. Các đại thực bào trong quá trình dọn dẹp trong vùng vết thương đồng thời có nhiệm vụ thực bào các vật lạ xâm nhập mô và trình diện với tế bào lympho T*H. Khi đại thực bào thực bào kháng nguyên thì đồng thời chúng sẽ tiết ra interleukin-1. Các tế bào lympho T*H bị kích thích sẽ sản sinh ra các yếu tố hoạt hoá khác nhau, các yếu tố hoạt hoá này lại bị kích thích lại các đại thực bào làm đại thực bào tăng cường hoạt động thực bào, tuy nhiên nếu các yếu tố hoạt hoá đại thực bào được tiết ra quá mức thì có thể dẫn tới phản ứng tự miễn, tiêu hủy cả một phần mô lành.
Quá trình biểu mô hoá:
Biểu mô hoá vùng vết thương được bắt đầu ngay vài giờ sau chấn thương. Các tế bào biểu mô từ lớp đáy tăng sinh gián phân và di chuyển đi qua lưới fibrin ra ngoại vi vết thương, các tế bào biểu mô di chuyển đến cho đến khi các lỗ thủng biểu mô được lấp đầy. Các tế bào biểu mô ở lợi bình thường sử dụng các receptor bề mặt được biết như là các integrin (một loại protein ) để kết dính hai lá của màng đáy . Để khởi phát sự di chuyển tế bào thì các tế bào sừng hoà tan các mối nối gian bào để di chuyển rồi tạo ra cầu nối tế bào mới để tạo biểu mô hoàn chỉnh ở vùng vết thương.
Tái sinh mô quanh răng:
Các tế bào trong mô quanh răng có khả năng tái tạo mô bẩm sinh, khả năng này phụ thuộc vào loại tế bào có tại vết thương, các chất kích thích tế bào tăng gián phân và di chuyển. Năm 1976, Melcher cho rằng các loại tế bào có trên mặt chân răng sau phẫu thuật sẽ quyết định sự tái sinh của mô trên bề mặt chân răng .
Tái sinh xương: Haney và cộng sự nghiên cứu trên chó thì thấy rằng mô xương được tạo ra trước cement và vết thương cần bất động ít nhất 8 tuần để tạo ra mô xương .
Giuseppe Polimeni cho rằng cho sự bất động của vạt và răng là yếu tố quan trọng để tái sinh mô quanh răng. Ông cho rằng sự bám dính của sợi fibrin trên bề mặt chân răng giúp ngăn không cho biểu mô lợi lan xuống phía cuống răng. Nếu fibrin bị bong ra khỏi bề mặt chân răng do vết thương không bất động thì quá trình lành thương và tái sinh mô quanh răng sẽ ngăn cản. Sự bám dính của fibrin trên bề mặt chân răng cộng với sự di chuyển của các nguyên bào sợi từ dây chằng quanh răng, xương ổ răng đến vết thương rồi biệt hoá thành tế bào tạo cement, tạo sợi collagen, tạo xương là cơ sở của sự tái sinh mô quanh răng .
Khả năng bám của mô quanh răng trên bề mặt chân răng sau phẫu thuật tụt lợi:
Tác giả Giuseppe Polimeni chích dẫn thực nghiệm trên chó của Hiatt về khả năng bám của mô mềm và sợi fibrin trên bề mặt chân răng: sức căng giữa răng và vạt lợi sau phẫu thuật tái tạo mô ở răng nanh trên của chó, sức căng tăng từ 200g (ngày thứ 3) tăng lên 340g (ngày thứ 5-7) và trên 1700g (ngày thứ 14 ) . Theo Leknes KN và cộng sự: ở thời điểm trước 14 ngày thì sự ổn định bám dính của phần mềm lên bề mặt chân răng chủ yếu là do sự cố định bằng chỉ khâu, băng phẫu thuật quanh răng, cần tránh sang chấn từ quá trình ăn nhai, bàn chải răng và hạn chế mảng bám răng dính lên vết thương .
Mô học của mô quanh răng sau phẫu thuật tụt lợi:
Goldstein M. và cộng sự năm 2001 thực hiện phẫu thuật ghép mô liên kết trên mặt ngoài răng 22, 23 và 24 . Sau phẫu thuật 14 tháng, răng 24 còn hở chân răng 1mm ở mặt ngoài (so với trước phẫu thuật là 5mm ), chiều sâu rãnh lợi 1mm, thời điểm 14 tháng sau phẫu thuật, bệnh nhân được nhổ hai số 4 hàm trên để chỉnh răng. Phân tích mô bệnh học vùng lành thương mặt ngoài răng 24 thấy: mô xương ổ răng, cement răng, mô liên kết lợi mới được tạo ra, biểu mô bờ lợi là biểu mô sừng hoá có các đuôi lấn xuống mô liên kết lợi, không thấy có phản ứng viêm ở vùng mô quanh răng mới.
Một số tác giả khác cũng làm xét nghiệm mô bệnh học và có kết luận phẫu thuật ghép mô liên kết che răng giúp tái sinh một phần mô cement và xương ổ như là Harris RJ. (1999) , McGuire (2003), Tatiana.
Vai trò của xử lý bề mặt răng acid citric :
Theo tác giả Preston D. Miller, JR. thì việc xử lý bề mặt chân răng bằng citric có tác dụng lấy đi lớp mùn ngà trên bề mặt chân răng giúp cho sợi fibrin bám dễ dàng hơn lên bề mặt chân răng để mô liên kết bám trên bề mặt chân răng, sau đó tạo điều kiện cho cement mới tái sinh bám dính trên bề mặt ngà chân răng, việc tái sinh cement trên bề mặt chân răng đồng thời giúp kích thích tái sinh mô xương. Việc tái sinh mô cement và mô xương ổ với tốc độ đủ nhanh trước khi các tế bào biểu mô kịp lan xuống là rất quan trọng để tạo ra sự bám dính và tái sinh mô giữ răng. Tác giả cho rằng ở phần sát với biểu mô kết nối, khi các sợi fibrin bám lên miệng ống ngà có thể kết dính với các sợi collagen trong ống ngà (ở vị trí này mô liên kết lợi dính trực tiếp lên bề mặt ngà răng). Nhiều tác giả có quan điểm giống Preston D. Miller về vai trò của acid citric đối với việc xử lý bề mặt chân răng: Baker, Bouchard P. Nếu không khử khoáng bề mặt chân răng thì tốc độ sinh cement và xương chậm, thường là biểu mô bám dính sẽ bám lên bề mặt chân răng và gọi là " biểu mô bám dính dài " (long junctional epithelium ).
Kết luận về quá trình lành thương sau phẫu thuật ghép mô liên kết:
Các nghiên cứu trên người và động vật cho kết luận: quá trình lành thương trên bề mặt chân răng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiễm khuẩn, phương pháp phẫu thuật, kỹ thuật của bác sỹ, khả năng lành thương bẩm sinh của cơ thể, sự bất động của vết thương, cách chăm sóc vết thương hậu phẫu. Tái sinh mô và tái bám dính lên bề mặt chân răng nhờ vào các thành phần tế bào (hồng cầu, các thực bào, các nguyên bào) và các thành phần không tế bào (lưới sợi fibrin, fibronectin huyết tương, vitronectin, thrombosporin, collagen. Xử lý bề mặt chân răng lấy đi lớp mùn ngà hỗ trợ quá trình bám dính lên bề mặt chân răng.

Lưu ý khi trám răng cửa bị mẻ

Răng cửa là những răng giữ chức vụ thẩm mỹ quan trọng trên cung hàm. Bất kỳ khiếm khuyết nào trên răng cửa cũng khiến tổng thể hàm mất đi sự hài hòa kém thẩm mỹ. Răng cửa bị mẻ là một trong những tình trạng phổ biến mà nhiều người gặp phải. Những lưu ý khi trám răng cửa bị mẻ sau đây sẽ giúp bạn có thể hiểu rõ hơn về phương pháp này.
>> trám răng ở đâu uy tín
>> địa chỉ hàn răng
Trám răng là phương pháp sử dụng vật liệu nhân tạo nhằm bù đắp phần bị trống, khiếm khuyết trên răng. Với những răng cửa bị mẻ, bác sĩ sẽ sử dụng vật liệu trám răng thẩm mỹ để phù đắp phần trống này.
Răng cửa thường yêu cầu thẩm mỹ rất cao nên bạn cần biết những lưu ý khi trám răng cửa bị mẻ sau đây:
Sử dụng vật liệu trám răng thẩm mỹ
Hiện nay, có rất nhiều loại vật liệu trám răng như: vật liệu kim loại Amalgam, kim loại quý (hợp chất của vàng, bạc, đồng…), nhựa nha khoa Composite, sứ…Mỗi loại vật liệu đều mang những tính chất và ưu nhược điểm riêng.
Những lưu ý khi trám răng cửa bị mẻ
Trong đó, vật liệu mang tính chất kim loại có màu bạc nên không được đánh giá cao về hiệu quả thẩm mỹ. Vì vậy, vật liệu này không được chỉ định cho các nhóm răng yêu cầu thẩm mỹ cao.
Vật liệu Composite và sứ nha khoa có màu trong suốt, đẹp tự nhiên và trùng với màu răng thật. Vì vậy, khi bạn có nhu cầu trám răng cửa thì đây sẽ là sự lựa chọn tuyệt vời.
Chăm sóc sau khi trám răng
Sau khi trám răng cử bị mẻ, bạn cần có chế độ chăm sóc răng miệng và ăn uống khoa học để tránh gây tổn thương hay thoái hóa vật liệu trám.
Tránh dùng răng cắn các vật cứng. Hành động này sẽ rất dễ gây tổn thương hay sứt, mẻ vết trám.

Tránh dùng răng cắn vật cứng
Tránh sử dụng các loại thức ăn cứng. Vật liệu trám mặc dù bền cứng như răng thật nhưng xét về độ dẻo dai thì không bằng. Vì vậy, với những loại thức ăn quá cứng, quá dai bạn cũng nên hạn chế hay thật cẩn thận khi sử dụng.
Sau khoảng 3-5 năm, vật liệu trám sẽ có xu hướng ngả màu so với màu men răng tự nhiên. Vì vậy, để tránh tình trạng răng bị xỉn màu, bạn cần tránh sử dụng những loại thực phẩm chứa nhiều màu như: trà, cà phê, thuốc lá, nước ngọt có gas…
Việc chăm sóc răng miệng cần được thực hiện kỹ lưỡng:
+ Đánh răng 2 lần/ ngày với bàn chải lông mềm và kem đánh răng phù hợp.
+ Tránh sử dụng bàn chải quá cứng và thao tác chải răng quá mạnh.
+ Sử dụng chỉ tơ nha khoa và nước súc miệng để làm sạch mảng bám hiệu quả.
Khi trám răng cửa bị mẻ tại nha khoa Toàn Sứ, bác sĩ sẽ lựa chọn vật liệu trám thẩm mỹ tốt nhất hiện nay. Quá trình trám răng sẽ bao gồm tạo hình thẩm mỹ và đông cứng vật liệu trám trên răng. Vì vậy, sau khi điều trị, răng có màu sắc tự nhiên và đồng nhất, vật liệu liên kết cố định bền vững với mô răng tự nhiên. Vì vậy, bạn hoàn toàn có thể yên tâm khi điều trị tại trung tâm.

Trám răng có cần phải lấy tủy không?

Răng bị bệnh lý như sâu răng, viêm tủy….là những tình trạng phổ biến thường gặp ở nhiều người. Sau khi làm sạch vết sâu, bác sĩ sẽ thực hiện phục hình để khôi phục hình dáng và chức năng cho răng. Vậy trám răng có cần lấy tủy không? Điều này sẽ được bác sĩ tư vấn cụ thể cho bạn dựa trên các kết quả thăm khám.
>> trám răng cửa bị mẻ
>> trám răng thưa thẩm mỹ
Răng có cấu tạo gồm 3 phần: men răng bảo vệ ở ngoài, tiếp đến là ngà răng và cuối cùng là tủy răng bên trong. Tủy răng là nơi chứa các dây thần kinh và là nguồn dinh dưỡng đển nuôi sống răng. Khi răng bị sâu nếu không được điều trị kịp thời sẽ bị tổn thương tủy bên trong. Tủy có thể bị viêm hay thậm chí là hoại tử. Viêm tủy thương có những biểu hiện cụ thể như sau:
Xuất hiện các cơn đau nhức kéo dài.
Xuất hiện túi mủ dưới chân răng. Túi mủ này là nơi tập trung các vi khuẩn gây hôi miệng và làm tổn thương cho răng và nướu.
Răng bị viêm tủy gây đau nhức khó chịu
Khi có những biểu hiện trên chứng tỏ răng đã bị tổn thương tủy nghiêm trọng, bạn cần đến nha khoa để được thăm khám và điều trị kịp thời.
Bác sĩ nha khoa Toàn Sứ sẽ thăm khám chu đáo tình trạng răng miệng tổng quát, chụp phim đánh giá các răng bị tổn thương tủy. Trong trường hợp răng bị sâu quá nghiêm trọng, tủy bị hoại tử bác sĩ buộc phải nội nha lấy tủy. Còn trong trường hợp răng chỉ bị sâu chưa ảnh hưởng tủy thì không nhất thiết phải điều trị tủy.
Khi nội nha lấy tủy, bác sĩ sẽ lấy sạch những mô tủy bị viêm, làm sạch vi khuẩn trong ống tủy và thực hiện trám bít các ống tủy này. Tuy nhiên, răng sau khi lấy tủy cũng có nghĩa là nguồn nuôi dưỡng răng không còn nên răng rất giòn, dễ vỡ, xỉn màu sau một thời gian…Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả cao nhất và giữ răng lâu dài nhất, các bác sĩ thường khuyên bạn nên thực hiện bọc răng sứ thay vì trám răng thông thường.

Bọc răng sứ là kỹ thuật mài nhỏ mô răng thật cần phục hình và chụp mão răng sứ bên trên. Mão răng sứ này có màu sắc tương đồng với các răng bên cạnh, màu đẹp tự nhiên như răng thật và có khả năng chịu lực nhai rất tốt. Bọc răng sứ tái tạo thẩm mỹ, hình dáng và chức năng cao hơn so với trám răng truyền thống.
Khi bạn nhận thấy những vấn đề bất thường trên răng thường khó nhận định mức độ sâu răng như thế nào. Chỉ có các bác sĩ thăm khám, chụp phim tổng quát, cụ thể mới có thể đưa ra các đánh giá chính xác.
Trong trường hợp răng chỉ mới bị sâu mặt nhai, sâu ở lớp men răng phía ngoài thì bác sĩ chỉ cần nạo vét và làm sạch lỗ sâu răng, sau đó trám bít lại bằng vật liệu nha khoa. Vì vậy, không phải trong trường hợp nào cũng yêu cầu trám răng lấy tủy.
Để được tư vấn tốt nhất cho trường hợp của mình, bạn vui lòng đến trực tiếp trung tâm để được các bác sĩ thăm khám và chỉ định cụ thể hơn.

Nguyên nhân triệu chứng bệnh nha chu

I. Nguyên nhân gây bệnh nha chu
Nguyên nhân chính gây bệnh nha chu là sự phát triển của vi khuẩn trong mảng bám răng. Thoạt đầu, trên răng sẽ hình thành một màng trong suốt bám vào. Nếu không đánh răng đều để loại trừ màng này, nó sẽ tích tụ, dần dần bị khoáng hóa trở thành vôi răng với lượng vi khuẩn ngày càng tăng. Các độc tố do vi khuẩn tạo ra xâm nhập mô nướu, gây viêm. Chúng cũng phá hủy các mô nâng đỡ răng khiến nướu dần tách ra khỏi mặt răng.

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh nha chu bao gồm:
>> dụng cụ lấy cao răng
>> máy lấy cao răng
- Chế độ dinh dưỡng và bảo vệ sức khỏe răng miệng không tốt.
- Tâm lý căng thẳng (làm giảm sức đề kháng của cơ thể).
- Hút thuốc lá, bị tiểu đường.
- Các bệnh tác hại đến hệ thống miễn dịch như bệnh bạch cầu, nhiễm HIV/AIDS.
 

Để phòng bệnh nha chu, điều quan trọng nhất là đánh răng đều đặn để loại bỏ mảng bám vi khuẩn trên bề mặt răng và khe nướu. Sáu tháng 1 lần, nên đến nha sĩ khám răng định kỳ và lấy sạch vôi răng, mảng bám ở những nơi bàn chải không làm sạch được.
Nha sĩ sẽ tư vấn về cách vệ sinh răng miệng như cách chọn lựa bàn chải đánh răng, sử dụng đúng chỉ nha khoa, chải kẽ răng để lấy sạch mảng bám. Nha sĩ cũng là người tư vấn chọn lựa thuốc súc miệng, kem chải răng thích hợp để giúp chúng ta bảo đảm được sức khỏe răng miệng và dự phòng tốt bệnh nha chu.
Khi đi khám, bạn đừng quên báo với bác sĩ nha khoa những thay đổi về sức khỏe chung, các thứ thuốc mà mình đang sử dụng như thuốc tránh thai, chống trầm cảm, tim mạch... vì chúng có thể tác động đến sức khỏe răng miệng.
II. Các triệu chứng của bệnh viêm nha chu
Khi tình trạng vệ sinh răng miệng không sạch,có nhiều mảng bám vi khuẩn lắng đọng nhiều trên rãnh lợi,kẽ răng lâu ngày làm cho lợi bị viêm,sưng phồng ,chảy máu,làm lung lay một hay nhiều răng.
Khi lợi bị viêm,nhiễm trùng thường có màu đỏ sậm,căng phồng dễ chảy máu khi ăn,nhai,hay chải răng.Khi lợi bị viêm,mô lợi trở nên lỏng lẻo thay vì bám chặt vào chân răng,lúc này sẽ rất dễ bị giắt thức ăn khi ăn,nhai.
Quan sát thì thấy có nhiều mảng bám và vôi răng.Nếu mảng bám vi khuẩn bám trên răng lâu ngày sẽ trở nên cứng nhắc được gọi là vôi răng hay đá răng.Khi ăn các mảng bám sẽ dễ dàng tích tụ và bám trên lớp vôi răng hơn làm cho lớp vôi răng càng trở nên dầy thêm và làm cho tình trạng viêm lợi càng trở nên trầm trọng.
Trong điều kiện bình thường,nếu không vệ sinh răng lợi sạch sẽ thì 24 giờ sau khi tụ tập các mảng bám sẽ cứng lại tạo thành vôi răng mới và cứ thế nếu không chải răng sạch sẽ,thường xuyên kỹ lưỡng thì cứ thế lớp vôi răng càng dày lên.

Lợi thế tuyệt vời của bọc răng sứ

Không phải ai sinh ra đều có được hàm răng khoẻ và sang bóng. Tuy nhiên, với răng sứ thì các bạn hoàn toàn có thể lựa chọn cấp độ sáng của răng cho phù hợp hơn với màu da. Ngoài ra, răng sứ cao cấp còn có màu nhan sắc, sáng và có độ bóng tốt.

Hạn chế bệnh lý cho răng:

Theo thời kì, răng sẽ có những thương tổn nhất định như mòn men răng…khi được bọc răng sứ thì bề mặt của răng thật sẽ được bảo vệ, bạn không còn khó chịu trước những kích thích của răng khi ăn uống hàng ngày. Hầu hết những răng bị bệnh lý sau điều trị nếu không  làm răng sứ thẩm mỹ lại thì phần mô răng còn khỏe mạnh sẽ chẳng những không được bảo vệ mà còn có nguy cơ bị bệnh lý răng tái phát.

Ngay cả những răng không bị bệnh lý và vẫn còn chắc khỏe nhưng nếu mọc lệch hoặc có hình thể xấu xí mà việc duy trì nó có thể làm hỏng thẩm mỹ răng của cả khuôn hàm thì việc làm lại cũng rất cần thiết. Duy trì những chiếc răng không đều cũng chính là căn nguyên khiến cho răng miệng gặp phải nhiều vấn đề hơn như cao răng, răng sâu, nha chu,…

Răng sứ bền chắc không kém răng thật:

Độ bền của răng nhân tạo được so sánh là không kém so với răng thật. So về độ chịu lực, răng sứ không kim khí còn cao hơn độ chịu lực của răng thật. Loại sứ tốt nhất còn có tính đàn hồi và khả năng cảm biến được thức ăn khá tốt, tuy chẳng thể so với răng sinh lý, song răng sứ không kim loại vẫn là sự thay thế hoàn hảo nhất cho răng thật. Có thể làm răng vĩnh viễn từ loại sứ tốt nhất mà không phải lo âu về sức bền và độ thẩm mỹ lâu dài của răng.

Xem thêm: Bọc răng sứ ở đâu tốt nhất

Ưu nhược điểm của trám răng thẩm mỹ

Ưu điểm của trám răng thẩm mỹ
Trám răng bằng composite ưu việt hơn nhiều so với trám bằng amalgam. Vì amalgam không dễ bám vào răng, phần còn tốt của răng cũng bị làm mòn đi để có thể trám amalgam vào. Với trám bằng composite bác sĩ chỉ cần loại bỏ chỗ răng bị sâu. Không giống như trám Amalgam, trám composite có màu giống răng nên tạo thẩm mỹ cho răng hơn. Vật liệu trám có nhiều màu để lựa chọn, nên bác sĩ sẽ chọn màu phù hợp với răng trông rất tự nhiên như răng thật của bạn.

>> địa chỉ hàn răng
>> trám răng ở đâu uy tín
Nhược điểm trám răng thẩm mỹ
Trám bằng composite tốn nhiều chất liệu và thời gian hơn so với trám amalgam do phải trám nhiều lớp mỏng, nên quy trình trám này lâu hơn một chút so với cách trám bằng Amalgam. Trám răng thẩm mỹ cũng chỉ sử dụng cho những trường hợp nhẹ và tình trạng sâu răng tương đối (chưa đến tủy). Nếu như không thể trám bằng composite thì bác sĩ sẽ cân nhắc và đưa ra hướng điều trị thích hợp hơn như inlay, onlay hoặc bọc răng sứ.
 

Tuổi thọ của răng trám thẩm mỹ?
Hàn răng bằng composite có tuổi thọ từ 7-11 năm. Riêng đối với răng trám bằng amalgam chỉ có tuổi thọ tối đa là 7 năm. Trám răng cũng có thể được chỉ định cho những người màu răng xấu, không đều hay sâu răng. Tuy nhiên chất liệu trám răng xốp, nên những người hút thuốc sẽ làm cho miếng trám bị vàng.
Quy trình trám răng thẩm mỹ
Trước khi tiến hành trám răng, bác sĩ sẽ dùng khoan để lấy sạch các vết đen trên răng. Để cho miếng trám bám lâu vào men răng và ngà răng lâu hơn bác sĩ sẽ sử dụng etching- một dung dịch axit nhẹ (Phosphoric acid từ 25%-34%) để làm rỗ bề mặt men và ngà răng. Tiếp đến, bác sĩ dùng một loại keo bonding để dán giữa men răng và chất liệu trám, rồi lấy một lượng composite vừa đủ để lấp vào chỗ sâu. Composite sẽ được làm cứng bằng đèn halogen hoặc đèn LED trong vòng 40 giây. Kết thúc quá trình trám, bác sĩ sẽ mài những chỗ composite bị dư, gây cộm để bệnh nhân cảm thấy thoải mái